Một số phương pháp dùng huyệt theo kinh điển
a-Nguyên huyệt và lạc huyệt: Nguyên và lạc ở 2 kinh có quan
hệ biểu lý với nhau. Khi một kinh phát bệnh, châm hoặc cứu
huyệt Nguyên của kinh đó và huyệt Lạc của kinh đó có quan hệ
biểu lý với nhau.Khi một kinh phát bệnh, châm hoặc cứu huyệt
Nguyên của kinh đó Và huyệt Lạc của kinh đó có quan hệ biểu
lý với nó.
Ví dụ: Kinh Đại tràng phát bệnh làm đau răng, chảy nước mũi,
đau họng, vai thì dùng huyệt Hợp cốc làm chủ(nguyên huyệt
của đại tràng) đồng thời
lấy Liệt khuyết( làm huyệt) thuộc kinh
phế làm chính.
Các kinh khác cũng suy ra như thế.
b- Du huyệt và mộ huyệt: Du huyệt ở sau lưng ( bối du) dùng
chữa âm khí hư kém phong hàn từ ngoài xâm lấn vào .
Mộ huyệt dùng chữa bệnh của ngũ tạng, lục phủ do nguyên
khí
hư kém.
Thường dùng phối hợp như sau:
Vị có bệnhdùng mộ ở Trung quản phối hợp với du là vị du.
c-Ngũ du huyệt: có 2 cách thường được nhắc đến.
-Vận dụng chủ chứng của Ngũ du huyệt để chữa bệnh: Tĩnh chủ
mỏ ác( tâm hạ) đầy; Huỳnh chủ mình nóng, Du chủ mình nặng,
khớp đau; Kinh chủ ho, sốt; Hợp chủ nghịch khí mà đi ỉa lỏng.
Ví dụ: Tim hồi hộp đồng thời thấy mình nặng, khớp đau thì
lấy Du huyệt của Tâm kinh mà chữa.
Tỳ vị bất hòa lại khí nghịch đi ngoài lỏng thì lấy hợp huyệt
của Tỳ kinh là Âm lăng tuyền hoặc hợp của Vị kinh là Túc tam
lý mà chữa.
Các kinh khác cũng suy ra như thế.
Vận dụng nguyên tắc( con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con). Có rhể
dùng các huyệt con, huyệt mẹ (con và mẹ đây theo quy luật
ngũ hành tương sinh) trên cùng một kinh hoặc trên 2 kinh,
kinh mẹ và kinh con.
Ví dụ: Phế ( thuộc hành kim) thực cần tả con là thận( thuộc
hành thủy) thì có thể dùng Xích trạch( Hợp của phế và ứng
với hành thủy) là huyệt con trên bản kinh
hoạc âm cốc,(hợp của thận và ứng với hành thủy) là huyệt con
ứngtrên kinh con.
Phế hư: Cần bổ mẹ nó là tỳ ( thuộc hành thổ) thì có thể dùng
Thái uyên, ( Du của phế ứng với hành thổ) là huyệt
mẹ trên bản kinh hoặc thái bạch(du của tỳ ứng với hành
thổ) là huyệt mẹ trên kinh mẹ… các kinh khác cũng đều suy ra như thế.
