Dùng phép bổ để phòng và chữa bệnh

Dùng phép bổ để phòng và chữa bệnh

Bổ là phép bồi dưỡng nhằm vào âm dương, khí huyết, lục phủ
ngũ tạng, có chỗ nào hư kém để bồi bổ, điều chỉnh cho không
còn sai lệch để người ta được khoẻ mạnh.

Trong khi chữa bệnh theo lý, pháp, phương huyệt cũng đã có
bổ tạng kém để nâng lên, tả tạng thừa để làm dịu xuống cho
âm dương được thăng bằng, kinh lạc được thông suốt mà khỏi
bệnh. Phần biện chứng điều bổ này muốn nói về nguyên tắc
chung vận dụng vào mọi trường hợp.

Do tiên thiên tiếp thu của bố mẹ không được tốt, nên có
người tuy chưa mắc bệnh mà âm, dương, khí huyết ở trong căn
bản suy nhược, do đó rất dễ mắc bệnh này tật nọ: loại này
cần đến phép bổ để phòng bệnh.

Do bệnh tà gây ra nhiều sai lệch trong người, làm rối loạn
âm dương khí huyết, lục phủ ngũ tạng nên khi trị bệnh hoặc
khi thế bệnh đã lui còn rơi rớt lại vài ba phần cũng cần
phải dùng phép bổ để giúp cho chính khí chóng phục hồi và
thanh toán nốt dư chứng của bệnh.

Khi bệnh đã khỏi, cũng cần bổ để củng cố hiệu quả điều trị,
tăng cường sức đề kháng của cơ thể ( chính khí ) để ngăn
ngừa tái phát.

Bổ bằng châm cứu tốt như bổ bằng thuốc, cần dùng đúng lúc và
đúng cách. Đó là một trong những tâm đắc của chúng tôi khi
kinh qua chữa bệnh, phòng bệnh bằng thuốc bắc, thuốc nam và
châm cứu, xoa bóp bấm huyệt.

a- Bổ khí hư:

– Triệu chứng: Người xanh yếu, ít nói, nói nhỏ, hơi thở nhẹ,
lười hoạt động, có lúc tự đổmồ hồi, mạch hư khi châm vào
người, kim lỏng lẻo, châm đắc khí hoặc chỉ đắc khí ít, hoặc
bệnh nhân đã bị một số lệnh như: Lòi dom, sa dạ con …

– Phương huyệt:

1- Đại chuỳ

2- Đản trung

3- Khí hải

4- Túc tam lý

– Giải thích ý nghĩa: Đản trung là huyệt khí hội ở đây. Khí
hải cũng là chỗ chữa khí.

Bổ 2 huyệt này thì khí được kiện vượng.

Bổ Túc tam lý cho cường trang tỳ vị (trung khí) để tăng
cường nguồn tiếp tế dinh dưỡng.

Bổ Đại chuỳ để bồi bổ chính khí, tăng cường sức chống bệnh.

b- Bổ huyết hư:

– Triệu chứng: Da vàng nhợt, môi, móng tay xanh hay trắng
nhợt, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, tim hồi hộp. Nếu là phụ
nữ
thì thêm kinh nguyệt không đếu, kinh ít, màu nhạt không tươi.

– Phương huyệt:

1- Cách du

2- Tâm du

3- Can du

4- Tỳ du

5- Huyết hải

6- Túc tam lý (bổ tỳ khí cơ năng của hậu thiên)

– Giải thích ý nghĩa: Cách du, Huyết hải là nơi huyết tụ hội,
bổ 2 huyệt này huyết càng tốt: Bổ tỳ du để tăng cường cơ năng tiếp
thu và vận chuyển thức ăn thức uống để sinh huyết (Tỳ thống
huyết)

Tâm chủ huyết: Bổ tâm du để làm cho máu tuần hoàn được lưu
thông.

Can tàng huyết: Bổ can du, để can tàng huyết lại.

Bổ mấy huyệt này sẽ bổ huyết rất tốt.

– Xoa bóp: bấm huyệt: xoa bóp vùng đầu và lòng bàn chân,
lưng ấn các huyệt trên vỗ vùng huyệt Mệnh môn 6 cái.

c- Bổ âm hư:

– Triệu chứng: Người gầy, sắc khô sạm, miệng khô, da thô ráp,
ù tai, xâm tối mặt, hồi hộp mất ngủ, đổ mồ hôi trộm, di tinh,
hay sốt âm về chiều, tối, nữ thì kinh ít, ho khan hoặc ho ra
máu.

– Phương huyệt:

1- Trung cực

2- Tam âm giao

– Gia giảm: Nếu có sốt âm, thêm Đào tạo.

– Giải thích ý nghĩa: Trung cực, Tam âm giao là huyệt hội
của Tam âm và Nhâm mạch mà Tam âm dùng bổ am là đắc lực còn
thêm nhiểu Nhiên cốc, Thận du, Phục lưu để tráng thuỷ tư âm
giâng hoả. Dùng Đào tạo để cắt cơn sốt không làm hại chân âm.

– Xoa bóp: Ấn, bấm các huyệt trên, dùng phương pháp xoa bổ
toàn thuân nhẹ nhàng.

d- bổ dương hư:

– Triệu chứng: Từ lưng, bụng dưới trở xuống tê lanh, hay đau
mỏi, chân tay mềm yếu, da xanh, người mát, chân tay lạnh,
thường ỉa lỏng, hay đái nhiều.

– Phương huyệt:

1-Mệnh môn

2-Quan nguyên

– Giải thích ý nghĩa: Bổ và cứu Mệnh môn để bổ tiên thiên
chân hoả và tráng dương, Chí dương, Quan nguyên là gốc của
chân dương. Hai huyệt này là chủ huyệt bổ dương, Dũng tuyền
cứu để ôn thận tráng dương.

Chú ý: Trường hợp khí hư nhiều thì ngoài phương huyệt chữa
khí hư nên gia thêm 1,2 huyệt bổ dương vì dương là gốc của
khí, bổ dương thì sinh khí càng mạnh.

Trường hợp huyết hư nhiều thì ngoài phương huyệt chữa huyết
hư nên thêm 1,2 huyệt bổ âm: Âm là gốc của huyết, bổ âm thì
sinh huyết càng tốt.

Tóm lại: Phép bổ có 2 tác dụng: ngoài sự bổ âm dương khí
huyết còn có khả năng tiêu trừ một số dư chứng còn rơi rớt
lại.

Xoa bóp: Bấm day các huyệt kể trên bằng dầu nóng.

Sách đã dạy: “Bổ chính thì tà không còn chỗ ở được nữa”.
Cũng cần chú ý lúc đầu thế bệnh đang mạnh mà bổ nhầm vào
chẳng khác nào tiếp tế thêm cho tà khí, làm cho bệnh nặng
thêm, hoặc chậm rút (như bệnh cấp, đang đau nặng .. ). Nhưng
khi bệnh đã đỡ nhiều cần phải bổ chính khí cho mạnh để thanh
toán nốt. Số ít bệnh còn lại thì mà không tái phát được.

Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích. Hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.


ZaloMesengerGọi Ngay