Động kinh
a- Triệu
chứng:
Khi lên cơn đột nhiên ngã vật bất tỉnh, minh mẩy cứng đờ,
cắn răng, trợn mắt, miệng, mắt mép xệch, chân tay co giật,
khi tỉnh lại, người mỏi mệt, lờ đờ rồi trở lại bình thường.
Có khi các cơn nối tiếp nhau, vì bệnh nhân chưa tỉnh thì cơn
khác lại xẩy ra.
b- Lý:
– Phong nhiệt,
đàm hỏa quá thịnh hoặc khí huyết hư bị khiếp sợ mà phát ra.
– Khi có thai, mẹ
bị kinh khiếp đẻ con ra bị động kinh (động kinh tiên thiên)
c- Pháp:
Trấn kinh an thần, thanh nhiệt tức phong tiêu đờm, tư bổ khí
huyết âm dương.
d- Phương
huyệt:
1- Bách hội
2- Phong trì
3- Thân trụ
4- Thần đạo
5- Cân súc
6- Trường cường
7- Đại lăng
8- Nội quan
9- Thần môn
10- Cự khuyết
11- Hành gian
12- Trung quản
13- Phong long
14- Can du
15- Thận du
Trong này dùng
thường xuyên có các huyệt 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 11. Trong
8 huyệt trên mỗi ngày chỉ châm 4 huyệt.
– Ngày đầu: Bách
hội, Thân trụ, Thần đạo, Cân súc
– Ngày thứ 2:
Trường cường, Nội quan, Thần môn, Hành gian, cứ thế luân lưu
xen kẽ kề nhau. Còn 7 huyệt kia chọn lấy 3- 4 huyệt
Bị dụng: Hậu khê
đ- Gia giảm
– Gặp lúc lên cơn,
châm thêm Nhân trung, Hợp cốc.
– Lè lưỡi, sùi
bọt mép, thêm Thiếu xung
– Thở dồn, trợnmắt, cứu thêm Tín hội
– Lên cơn về ban
ngày thêm Thân mạch
– Nếu lên cơn về
dêm thêm Chiếu hải.
– Nếu do Tiên
thiên, cứu thêm Quan nguyên, Mệnh môn, Âm giao.
e- Giải
thích cách dùng huyệt:
Bách hội, Thân trị, Thần đạo, Cân súc, Trường cường chữa co
giật, co cứng. Đại lăng, Cự khuyết, Nội quan, Thần môn để
trấn an thần, ổn định kinh giản.
Hành gian để bình
can tức phong, Trung quản, Phong long để tiêu đờm.
Can du, Thận du
để bổ can huyết, tư âm giáng hỏa, Quan nguyên, Mệnh môn có
tác dụng bổ dương để bồi bổ tiên thiên.
Xoa bóp: Bấm
huyệt, xoa bóp kết hợp châm, thuốc, nhằm phục hồi toàn thân,
nhất là mỏi mệt sau lên cơn.
